Tin tức

Hãy đọc những bài viết của chúng tôi để biết thêm thông tin bạn tìm kiếm

  1. Trang chủ
  2. Bài giảng & báo cáo khoa học

Kết quả bước đầu điều trị can thiệp thông động tĩnh mạch màng

Trần Anh Tuấn*. Lê Hoàng Kiên**. Vũ Đăng Lưu*. Phạm Minh Thông*.

Kết quả bước đầu điều trị can thiệp thông động tĩnh mạch màng
Ngày 12 tháng 01, 2018 - Lượt xem: 690
  • Đặt vấn đề

Thông động mạch màng cứng xoang hang là một bệnh lý hiếm gặp, chiếm khoảng 10-15% các bệnh lý dị dạng mạch máu nội sọ. [1]Thông động mạch màng cứng xoang hang chủ yếu gặp ở nữ nhiều hơn nam, trong đó chủ yếu là phụ nữ tuổi mãn kinh nhưng đôi khi cũng gặp ở những phụ nữ trẻ có tiền sử về sinh sản.

            Các giải pháp điều trị cho thông động tĩnh mạch màng cứng xoang hang được quyết định dựa trên hình thái, vị trí, kiểu tĩnh mạch và xoang dẫn lưu bao gồm : Xạ trị, phẫu thuật, và điều trị bằng đường can thiệp nội mạch. Trong đó can thiệp nội mạch được tiến hành bằng đường tĩnh mạch, động mạch hay kết hợp cả hai.

Nhờ sự tiến bộ vượt bậc của các công cụ can thiệp mạch trong thời gian gần đây, phương pháp điều trị can thiệp nội mạch đã trở thành phương pháp ưu việt trong điều trị TDTMMC. Để điều trị luồng thông người ta có thể chọn dụng cụ can thiệp như Coils, Stent, hạt PVA, Keo Onyx đơn thuần hay phối hợp giữa những dụng cụ với nhau. Trong đó can thiệp đường động mạch và dùng hạt thì tỷ lệ tắc hoàn toàn thấp và khả năng tái thông cao ( 60-70%)[3,4]. Do vậy thời gian gần đây phương pháp nút bằng Coils sử dụng qua đường tĩnh mạch cho kết quả tốt với tỷ lệ nút tắc hoàn toàn cao và tái thông thấp ( 80-100%) [3,4] Nên trong bài báo này của chúng tôi nhằm giới thiệu bước đầu phương pháp điều trị can thiệp đường tĩnh mạch sử dụng Coils và có kết hợp với dùng hạt theo đường động mạch.

  • Đối tượng và phương pháp nghiên cứu :
  1. Đối tượng :

Nghiên cứu mô tả cắt ngang ghi nhận các đặc điểm lâm sàng hình ảnh Tổng số 5 bệnh nhân được chẩn đoán thông động tĩnh mạch màng cứng được chỉ định nút tắc bằng vòng xoắn kim loại ( VKXL ) đơn thuần hoặc có kết hợp với hạt PVA  từ tháng 6/2004 đến tháng 4/ 2012.

  1. Phương pháp nghiên cứu :

Nghiên cứu mô tả cắt ngang ghi nhận các đặc điểm lâm sàng hình ảnh liên quan đến cấu trúc ổ dị dạng, phân loại, chiến lược sử dụng vật liệu can thiệp và kết quả đánh giá tấc hoàn toàn hay không hoàn toàn luồng thông

Phân loại luồng thông động tĩnh mạch màng cứng vùng xoang hang theo Barrow :

Kiểu B : Luồng thông gián tiếp vào xoang hang nguồn nuôi chỉ từ động mạch cảnh trong.

Kiểu C : Luồng thông gián tiếp vào xoang hang nguôn nuôi chỉ từ động mạch cảnh ngoài.

Kiểu D : Luồng thông gián tiếp vào xoang hang nguổn nuôi  bao gồm cả động mạch cảnh trong và động mạch cảnh ngoài ( B + C )

Phân loại luồng thông động tĩnh mạch màng cứng vùng xoang hang theo Cognard dựa trên tĩnh mạch dẫn lưu.

Kiểu I : dẫn lưu xuôi chiều về xoang tĩnh mạch rồi tĩnh mạch tĩnh mạch cảnh trong cùng bên. Triệu chứng lâm sàng bao gồm ù tai, chóng mặt và đau đầu. Không có biến chứng thần kinh.

Kiểu IIa : dẫn lưu về xoang tĩnh mạch có kèm lưu lượng lớn gây trào ngược sang bên đối diện hoặc lên trên, nguy cơ tăng áp lực xoang tĩnh mạch vùng nội sọ. Triệu chứng biểu hiện giống như kiểu I nhưng kèm theo tăng áp lực nội sọ trong 30% các trường hợp.

Kiểu IIb : dẫn lưu về xoang tĩnh mạch nhưng kèm theo trào ngược vào tĩnh mạch vỏ não. Nguy cơ chảy máu não khoảng 10% hoặc nhồi máu não tĩnh mạch.

Kiểu III : Luồng thông nằm trực tiếp trên thành xoang tĩnh mạch rồi đổ trực tiếp vào tĩnh mạch vỏ não. Nguy cơ biến chứng thần kinh cao như chảy máu trong 40% các trường hợp.

Kiểu IV : Luồng thông giống kiểu III nhưng tĩnh mạch dẫn lưu vỏ não giãn hẹp không đều. Nguy cơ biến chứng chảy máu não lên đến 80% các trường hợp.

Kiểu V : Các luồng thông trực tiếp về xoang tĩnh mạch vỏ quanh tủy.

  • Quá trình thực hiện được thực hiện trên máy chụp mạch một bình diện Phillips Allura  một bình diện. 
  • Kỹ thuật nút luồn thông động tĩnh mạch màng cứng bằng VXKL: thủ thuật được tiến hành bởi hai bác sỹ điện quang can thiệp, bệnh nhân được gây tê tại chỗ hoặc gây mê toàn thân, đặt dụng cụ mở mạch máu (sheath) 6F vào tĩnh mạch đùi và động mạch đùi bên phải.
  • Thuốc chống đông: Heparin được tiêm tức thì 2500 đơn vị khi đặt xong dụng cụ mở mạch máu và duy trì 10-20 đơn vị/kg/giờ để có thời gian đông máu kéo dài hơn bình thường 2-3 lần.
  • Tiến hành đặc poter 6F Chaperon tĩnh mạch cảnh trong hoặc cảnh ngoàiMicroCatheter thường là Echelon 1.7 hoặc 1.9, dẫn đường Guidewire 0.14. Đặt thêm một sonde lên động mạch cảnh cùng bên tổn thương.
  • Đặt đầu ống thông siêu nhỏ (Echelon) xoang tĩnh mạch hang thông qua nhánh nối từ tĩnh mạch cảnh trong – tĩnh mạch mặt- tĩnh mạch trên ổ mắt hoặc tĩnh mạch cảnh ngoài – tĩnh mạch thái dương nông – tinh mạch trên ổ mắt.
  • Coils được thả dần bít tắc luồng thông đến xoang tĩnh mạch hang. Sau đó một số nhánh nhỏ sẽ được bít tắc bằng hạt PVA từ động mạch cảnh ngoài chọn lọc động mạch hàm trong.
  • Ngay sau quá trình can thiệp, bệnh nhân sẽ được bất động chi dưới bên đã được chọn làm can thiệp, theo dõi sát sao tình trạng toàn thân, mạch nhiệt độ huyết áp trong vòng 24 giờ. Về thuốc, dùng tiếp Heparin 500 đơn vị/giờ và sau đó chuyển chống đông trọng lượng phân tử thấp (Fraxiparin hoặc Lovenox) dưới da 20mg x 2 ống/ngày tùy theo tình trạng can thiệp.
Form đăng ký

Vui lòng điền đầy đủ thông tin sau

Danh mục

Tin liên quan
Go to top